Ôn thi cao đẳng môn Văn: Một người Hà Nội và phong cách của Nguyễn Khải

Thứ hai, 01/07/2013, 03:55 GMT+7

Tác phẩm “Một người Hà Nội” tiêu biểu cho các tác phẩm của Nguyễn Khải sau giai đoạn 1978, vẻ đẹp của hình tượng của cô Hiền tiêu biểu cho nét đẹp và sức sống bất diệt của Hà thành. Qua nhân vật này, nhà văn Nguyễn Khải đã nói lên biết bao nhiêu điều có tính triết lý về sự thay đổi của thời gian, không gian nhưng vẻ đẹp của con người và vốn văn hóa cùng tính cách người Hà Nội mãi là giá trị tinh thần không thay đổi.

I) Tác giả:

- Nguyễn Khải là người trải nghiệm nhiều , thời niên thiếu đầy éo le hình thành đặc điểm riêng  trong tính cách và sáng tác của nhà văn: nhẫn nhịn, tỉnh táo, sắc sảo, hiểu đời, hiểu người, già dặn, suy tư.

- Tác phẩm chính: Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960), Cha và Con và… (tiểu thuyết, 1979), Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, 2004)…

- Đặc điểm sáng tác:

• Hành trình sáng tác của Nguyễn Khải tiêu biểu cho quá trình vận động của văn học dân tộc hơn nửa thế kỉ.

• Nét mới trong cái nhìn nghệ thuật về cuộc đời và con người

On thi cao dang mon Van: Mot nguoi Ha Noi - Nguyen Khai

Nhà văn Nguyễn Khải

Trước 1978: cái nhìn tỉnh táo, sắc lạnh, nghiêm ngặt, phân lập đơn chiều; luôn khai thác hiện thực trong thế xung đột, đối lập cũ – mới, ta – địch, tốt – xấu… => khẳng định xu thế vận động (từ bóng tối ra ánh sáng) của cuộc sống mới, con người mới.
Ngòi bút văn xuôi có khuynh hướng chính luận với sức mạnh của lí trí tỉnh táo.

Sau 1978: Cái nhìn đầy trăn trở, chiêm nghiệm, cảm nhận hiện thực xô bồ, hối hả, đầy đổi thay nhưng cũng đầy hương sắc => chuyển mạnh từ hướng ngoại sang hướng nội.

Lấy việc khám phá con người làm trung tâm => con người cá nhân trong cuộc sống đời thường => nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, quá khứ dân tộc, gia đình và sự tiếp nối thế hệ => khẳng định, ngợi ca những giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người hôm nay. Cảm hứng triết luận với giọng văn đôn hậu, trầm lắng, nhiều suy nghiệm.

- Vị trí văn học sử: một trong những cây bút hàng đầu của văn xuôi sau cách mạng tháng Tám năm 1945.

II) Tác phẩm

Một người Hà Nội tiêu biểu cho các sáng tác của Nguyễn Khải ở giai đoạn sau 1978. Hình tượng nhân vật cô Hiền tiêu biểu cho nét đẹp và sức sống bất diệt của văn hoá Hà thành.

Ý nghĩa nhan đề:

Nhan đề tác phẩm như kết lắng lại những suy tư của tác giả về bà Hiền - một người Hà Nội tiêu biểu trong những người Hà Nội. Trong mắt nhìn của tác giả, bà Hiền là biểu tượng của đất Hà thành, một thế hệ mang đậm “chất kinh kì” còn ở lại cùng Hà Nội hôm nay. Nhân vật này không chỉ hiện lên với tư cách một cá thể, một con người cụ thể mà còn chính là tinh túy, là giá trị muôn đời của Hà Nội, là một di sản văn hóa sống động của đất kinh kì.

Đồng thời, khi truyện ngắn này được đưa vào tập truyện Hà Nội trong mắt tôi (1995), nhan đề vừa gợi một biểu tượng về Hà Nội, kích thích trí tò mò, hứng thú của độc giả vừa thể hiện những suy tư của tác giả về con người, tính cách, lối sống Hà Nội trước những biến thiên của lịch sử.

Tóm tắt tác phẩm "Một người Hà Nội":

Nguyễn Khải là nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm “Mùa lạc”,“Một chặng đường”,“Tầm nhìn xa”. Trước năm 1978, tác phẩm của Nguyễn Khải là cái nhìn tỉnh táo, sắc lạnh, luôn khai thác hiện thực trong thế xung đột, đối lập cũ - mới, tốt - xấu, ta – địch. Từ năm 1978 trở về sau, tác phẩm của ông là cái nhìn trăn trở, chiêm nghiệm, cảm nhận cái hiện thực xô bồ, hối hả, đổi thay nhưng cũng đầy hương sắc. Chuyển mạnh từ hướng ngoại sang hướng nội. Nhà văn nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, quá khứ dân tộc, gia đình và sự tiếp nối thế hệ. Từ đó nhà văn khẳng định những giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người hôm nay. Nhân vật bà Hiền trong tác phẩm tiêu biểu cho hướng tiếp cận ấy của nhà văn.

Tác phẩm “Một người Hà Nội” tiêu biểu cho các tác phẩm của Nguyễn Khải sau giai đoạn 1978, vẻ đẹp của hình tượng của cô Hiền tiêu biểu cho nét đẹp và sức sống bất diệt của Hà thành. Qua nhân vật này, nhà văn Nguyễn Khải đã nói lên biết bao nhiêu điều có tính triết lý về sự thay đổi của thời gian, không gian nhưng vẻ đẹp của con người và vốn văn hóa cùng tính cách người Hà Nội mãi là giá trị tinh thần không thay đổi.

Nhân vật trung tâm trung truyện ngắn là cô Hiền , một người Hà Nội bình thường. Cũng như những người Hà Nội bình thường khác, cô đã cùng HN , cùng đất nước trải qua những biến động, thăng trầm nhưng vẫn giữ được cốt cách HN, cái bản lĩnh văn hoá của người HN. Cô sống thẳng thắn, chân thành, không giấu giếm quan điểm, thái độ của mình với mọi hiện tượng xung quanh.

Thời trẻ, cô Hiền là một người tài hoa, yêu thích văn chương, giao du với đủ loại thanh niên con nhà giàu, nghệ sĩ văn nhân, nhưng khi chọ chồng cô không hề lãng mạn mà chọn ông anh giáo dạy cấp Tiểu học hiền lành, chăm chỉ. Cô tính toán kĩ lưỡng khi quản lí gia đình, dạy dỗ con cái từ cách ăn nói, đi đứng… sao cho thể hiện được nét văn hoá của người HN.

Hoà bình lập lại ở miền Bắc, cô Hiền nói về niềm vui và cả những cái có phần máy móc, cực đoan của cuộc sống xung quanh: vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, theo cô chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá .... Cô tính toán mọi việc trước sau rất khôn khéo và đã tính là làm, đã làm là không để ý đến những đàm tiếu của thiên hạ...

Miền Bắc bước vào thời kì ương đầu với chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ. Cô Hiền dạy con cách sống “biết tự trọng, biết xấu hổ”, biết sống đúng với bản chất người Hà Nội. Đó cũng là lí do vì sao cô sẵn sàng cho con trai ra trận: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”...

Sau chiến thắng mùa xuân 1975, đất nước trong thời kì đổi mới, giữa không khí xô bồ của thời kinh tế thị trường, cô Hiền vẫn là “một người Hà nội của hôm nay, thuần tuý Hà Nội, không pha trộn”. Từ chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn, cô Hiền nói về niềm tin vào cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Nhân vật cô Hiền

- Xuất thân: gia đình giàu có lương thiện, được dạy dỗ theo khuôn phép nhà quan.

- Một số đặc diểm thời thiếu nữ: xinh đẹp, thông minh, mở xa lông văn chương, giao du rộng rãi với giới văn nghệ sĩ Hà thành.

- Quan hệ với người kể chuyện xưng “tôi”: chị em đôi con dì ruột với mẹ già.

- Được miêu tả trong nhiều thời điểm khác nhau của lịch sử. Trước mỗi thời điểm khác nhau, nhân vật lại có những biểu hiện ứng xử thể hiện nét cá tính đặc biệt, nhất quán:

Năm 1955:

• Bối cảnh: từ kháng chiến trở về, một Hà Nội “nhỏ hơn trước, vắng hơn trước”.

• Nguyên nhân cô Hiền và gia đình ở lại:

>>> Chủ yếu: “họ không thể rời xa Hà Nội, không thể sinh cơ lập nghiệp ở một vùng đất khác” => sự gắn bó máu thịt với Hà thành.

Kháng chiến chống Mĩ: yêu thương lo lắng cho con nhưng không hề ngăn cản con nhập ngũ

• Người con cả tình nguyện tòng quân => phản ứng: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng” => Nhận thức sâu sắc.

• Người con thứ theo anh lên đường => phản ứng: “Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”=> “Tao cũng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác(…), vui lẻ thì có hay hớm gì” => Ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng của một người phụ nữ Việt Nam yêu nước, một người mẹ nhân hậu, vị tha.

Năm đầu Hà Nội vừa giải phóng

• Bối cảnh:

>>>Tâm lí không đồng nhất: chúng tôi - vui thế, tại sao những người vốn sống ở Hà Nội - chưa thật vui?

• Khi con gọi cháu là “Đồng chí Khải” => cô Hiền chỉnh “anh Khải” => trong khi quán tính số đông vẫn còn phân biệt người cách mạng như những anh hùng trở về thì cô Hiền dường như chỉ chú ý đến mối quan hệ họ hàng với “Tôi” => quan hệ bền vững, không chịu bất cứ sự va đập, biến thiên nào của thời cuộc => biết nhận chân giá trị, biết nhìn vào bản chất của vấn đề, để không bao giờ bị mê muội.

• Khi người cháu hỏi: “Nước độc lập vui quá cô nhỉ?” => phản ứng:

>>> Trả lời: “Vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, phải nghĩ đến làm ăn chứ” => tỉnh táo, sáng suốt, nhạy bén với hiện thực.

>>> Nhận xét thẳng thắn, không giấu giếm quan điểm với “người cách mạng” - nhân vật “tôi”: Chính phủ can thiệp nhiều vào việc của dân quá ….=> trung thực, có cái nhìn sâu sát về thời cuộc.

Trong thời kỳ đầu MB XDCNXH: Có bộ mặt tư sản, một cách sống rất tư sản, nhưng lại không bóc lột ai cả thì làm sao gọi là tư sản được

- Bộ mặt tư sản:
• Cái ở: ở rộng quá, một tòa nhà tọa lạc ngay ngay tại một đường phố lớn, hướng nhà nhìn thẳng ra cây si cổ thụ và hậu cung của đền Ngọc Sơn.
• Cái mặc: “sang trọng quá”
• Cái ăn: “không giống với số đông” => so sánh với lối ăn uống bình dân của gia đình “tôi”

>>> Khẳng định: “Cô Hiền đích thị là tư sản”.

>>> Nhưng thực chất: Không bóc lột ai cả thì làm sao gọi là tư sản?
• Cửa hàng chỉ buôn hoa giấy do chính tay bà làm và các con phụ giúp.
• Đối xử với người làm: vì chủ tớ cần dựa nhau, tình nghĩa như người trong họ.

>>> người lao động chân chính, có nhân có nghĩa

- Thời kỳ kháng chiến cách mạng: bà thương con vô cùng nhưng sẵn sàng cho con ra trận với suy nghĩ “Tao không muốn nó sống bám vào sự hy sinh của bạn.Nó dám đi cũng là biết tự trọng”. Bà nói “ Ngăn cản n tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”, “Tao cũng muốn sống bình đẳng với các bà mẹ khác, vui lẻ thì có hay hớn gì” >>> Cách sống của con người có lòng tự trọng, có bản lĩnh gắn với ý thức trách nhiệm của một công dân yêu nước biết vượt lên cái nhất thời.

>>> Tính cách nhân vật được bộc lộ qua nhiều tình huống khác nhau, trong nhiều thời điểm lịch sử.

Số phận con người gắn với từng biến chuyển lớn của lịch sử dân tộc

>>> Cái nhìn hiện thực mới mẻ: phản ánh số phận dân tộc qua số phận một cá nhân.Trải qua bao thăng trầm của thời thế, bản chất, những nét đẹp của nhân vật vẫn thống nhất, không bị phôi pha => thời gian là thứ nước rửa ảnh làm nổi rõ hình sắc nhân vật.

Tính cách cụ thể :
+ Thông minh, tỉnh tảo và thức thời:
- Năm 1956, bán một trong hai ngôi nhà cho người kháng chiến ở.
- “Chú tuy chưa già nhưng đành để ngồi chơi, các em sẽ đi làm cán bộ, tao sẽ phải nuôi một lũ ăn bám, dù họ có đủ tài để không phải sống ăn bám”
- Ứng xử với chính sách cải tạo tư sản của nhà nước
• Chồng muốn mua máy in => ngăn cản vì nhận rõ việc làm này sẽ vi phạm chính sách.
• Mở cửa hàng đồ lưu niệm để đảm bảo “đủ ăn” mà không bóc lột bất kì ai.

+ Có đầu óc thực tế:
- Không có lòng tự ái, sự ganh đua, thói thời thượng, không có cái lãng mạn hay mơ mộng viển vông.
- Đã tính là làm, đã làm là không để ý đến lời đàm tiếu của thiên hạ => bản lĩnh, có lập trường.
- Đi lấy chồng: dù giao du rộng nhưng chọn làm vợ một ông giáo cấp Tiểu học hiền lành, chăm chỉ => cả Hà Nội “kinh ngạc”.
- Tính toán cả chuyện sinh đẻ sao cho hợp lí, đảm bảo tương lai con cái.

+ Trân trọng, nâng niu, gìn giữ truyền thống văn hoá người Hà Nội:
- Dặn dò bọn trẻ: “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng”.
- Coi việc giữ gìn nếp sống là một cách “tự trọng, biết xấu hổ”.==> cái nền của đạo đức, của việc làm người
- Suy nghiệm triết học: Hình ảnh cây si bị bão đánh bật rễ rồi lại hồi sinh

+ Cây si: biểu tượng của văn hóa, nét cổ kính, linh thiêng của đất kinh kì ngàn năm văn hiến.

+ Đổ nghiêng tán cây đè lên hậu cung, một phần bọ rễ bật đất chổng ngược lên trời 

>>> Sự biến thiên của lịch sử, qui luật nghiệt ngã của tự nhiên.

+ Hồi sinh: lại sống. lại trổ ra lá non => niềm tin, lạc quan vào sự phục hồi những giá trị tinh thần của Hà Nội.

>>> Là hạt bụi vàng của Hà Nội: Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng >>> biểu tượng của vẻ đẹp tinh tế, sức sống bất diệt của văn hoá Hà Thành. (Ý nghĩa nhan đề)

b. Những người Hà Nội khác và suy nghiệm triết học:

+ Những người Hà Nội khác: Chia làm hai tuyến.

- Dũng, Tuất, mẹ Tuất:
• Dũng, Tuất: những thanh niên yêu nước, quả cảm.
• Mẹ Tuất: bà mẹ Việt Nam nhân hậu, giàu đức hi sinh.

>>> Những con người cùng với cô Hiền tiếp lửa cho ngọn đuốc văn hoá truyền thống của đất kinh kì cháy sáng.
- Những con người tạo nên những nhận xét “không mấy vui vẻ” của “tôi” về Hà Nội.

• Ông bạn trẻ đạp xe như gió: làm xe người ta suýt đổ, lại phóng xe vượt qua rồi quay lại chửi một người đáng tuổi bác tuổi chú “tiên sư cái anh già” => thô tục, vô văn hóa, không biết lễ độ.

• Những người mà nhân vật tôi quên đường hỏi thăm :”có người trả lời, là nói sõng hoặt hất cằm, có người cứ giương mắt nhìn mình như con thú lạ” chỉ vì “ông ăn mặc tẩm như thế lại đi xe đạp họ khinh là phải, thử đội mũ dạ, áo ba-đờ-xuy, cưỡi cái Cúp xem, thưa gửi tử tế ngay” >>> hám lợi, bị danh vị, hình thức, tiền tài cám dỗ >>> lối ứng xử trọc phú, không còn nét hào hoa, thanh lịch của người Hà Nội.

Qua hình tượng các nhân vật, tác giả nhìn thẳng vào sự thật, đặt ra những vấn đề đáng trăn trở >>> hướng đi mới của văn học:“Tôi thích cái ngày hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ và màu đen. Đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thỏa sức khai vỡ” (Gặp gỡ cuối năm – Tiểu thuyết).

Giá trị nghệ thuật

+ Ngôn ngữ: kể chuyện đặc sắc, có tính cá thể hóa
- Cô Hiền: ngắn gọn, logic, rõ ràng.
- Dũng: những lời thật xót xa.
- Ít miêu tả, chủ yếu là kể, kể bằng quan sát, phân tích và bình luận sắc sảo giàu ý nghĩa.(VD hình ảnh cây si, hạt bụi vàng..)

+ Giọng điệu trần thuật: Trải đời, tự nhiên, trĩu nặng suy tư, giàu chất khái quát, đa thanh, mang đậm yếu tố tự truyện qua “cái tôi”, sử dụng lối văn trần thuật trải đời, vừa tự nhiên, dân dãvùa tĩu nặng suy tư, vừa giàu chất khái quát triết lý vừa mang giọng điệu đa thanh (giọng kể tự tin xen lẫn hoài nghi, tự hào xen lẫn tự trào) tăng tính chân thật, khách quan.
- Nguyển Khải đã xây dựng một hình tượng nhân vật khá độc đáo: bà Hiền như Một người Hà Nội đích thực
- Ngôn ngữ sắc sảo, giàu tính trí tuệ, uyên bác, giọng văn linh hoạt: lúc trầm lắng, lúc hóm hỉnh tự trào, lúc sôi nổi thể hiện cái nhìn đầy trăn trở, suy nghiệm về con người. Cảm hứng triết luận - một trong những nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải.

+ Giá trị nội dung: Qua nhân vật, ta thấy tác giả nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, với quá khứ dân tộc, với quan hệ gia đình và nối tiếp thế hệ… để ngợi ca những giá trị nhân văn cao đẹp của con người và cuộc sống hôm nay.
- Khẳng định sức sống bền bỉ của các giá trị văn hóa mang nét đẹp Hà Nội
- Niềm thiết tha gìn giữ các giá trị ấy cho hôm nay và cho cả mai sau.
>>> Tác giả đề xuất một tiêu chuẩn thẩm mĩ về một con người: con người cần được nhìn, khẳng định ở góc độ văn hóa
>>> Ta thêm yêu quý, tự hào về văn hoá , đất nuớc, con người Việt Nam.

Đề bài: Phân tích vẻ đẹp của người Hà Nội qua nhân vật bà Hiền trong tác phẩm “Một người Hà Nội” (Nguyễn Khải). (Phân tích nhân vật bà Hiền)

Những ý chính cần nhớ:

On thi cao dang mon Van: Mot nguoi Ha Noi - Nguyen Khai

Nhân vật bà Hiền trong tác phẩm nói lên phần nào nét đẹp trong tính cách và con người Hà Nội

Tính cách nhân vật bà Hiền:

Thời son trẻ, bà giao du với đủ loại thanh niên con nhà giàu, nghệ sĩ văn nhân, nhưng khi phải làm vợ làm mẹ, bà lại “chọn bạn trăm năm là một ông giáo cấp Tiểu học hiền lành, chăm chỉ”.

Bà quyết định chấm dứt sinh đẻ (bà sinh năm đứa con, đến đứa con gái út, bà nói với chồng: “Từ nay là chấm dứt chuyện sinh đẻ, bốn mươi tuổi rồi, nếu ông và tôi sống đến sáu chục thì con út đã hai mươi, có thể tự lập được, khỏi phải sống bám vào các anh chị”

Việc bà dạy bảo con cháu từ những chuyện nhỏ đến việc lớn như quan niệm sống, cách sống, cô luôn dạy bảo và yêu cầu các con, cháu: “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, không được sống tùy tiện, buông tuồng”, “Tao chỉ dạy chúng nó biết tự trọng, biết xấu hổ…” thể hiện rõ cách sống của một người Hà Nội lịch sự, tế nhị, hào hoa, biết giữ gìn phẩm chất, giá trị của người Hà Nội.

Không gian sống:

Nhà của bà rộng rãi, “tọa lạc ngay tại một đường phố lớn”, phòng khách bày biện, trang hoàng nền nã, cổ kính: một cái bình phong cao hơn đầu người bằng gỗ chạm suốt mấy chục năm không thay đổi, một bộ xa lông gụ “cái khánh, cái sập gụ chân quỳ chạm rất đẹp, cái tủ chùa một cánh bên trong bày một lọ men Thuý hồng, một cái lư hương đời Hán, một cái liễn hấp sâm Giang Tây và mấy thứ bình lọ màu men thường nhưng có dáng lạ.”

Trang phục:

Lúc cần, đã biết rũ bỏ "đồng phục" để hoá thân thành những con người khác, đáng để cho những kẻ yêu cái đẹp ngắm nhìn : "bà chủ xuất hiện trước như diễn viên trên sân khấu, rồi một loạt bảy tám bà tóc đã bạc hoặc nửa xanh nửa bạc, áo nhung, áo dạ, đeo ngọc đeo dây đi lại uyển chuyển".

Hoặc tác giả đã miêu tả : “mùa đông ông mặc áo ba-đờ-xuy, đi giày da, bà mặc áo măng-tô cổ lông , đi giày nhung đính hạt cườm”

Sinh hoạt:

Cái ăn cũng không giống số đông. Nhân vật người cháu kể rằng: bàn ăn của nhà bà Hiền trải khăn trắng, giữa bàn có một lọ hoa nhỏ, bát úp trên đĩa, đũa bọc trong giấy bản, từng người ngồi đúng chỗ quy định….

Gia đình bà Hiền thỉnh thoảng tổ chức một cuộc họp mặt thân mật gồm những bạn văn chương, trí thức để chia sẻ buồn vui, nỗi niềm trước cuộc đời.

Trong quan hệ với đời sống xã hội:

a) Trong thời kì miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội

Khi nghe chồng có ý định mở hiệu in, bà không đồng ý vì: “Ông sẽ phải thuê thợ chứ gì. Đã có thợ tất phải có chủ, ông muốn làm một ông chủ dưới chế độ này à?”.
- Mặc dù có “bộ mặt rất tư sản, cách sống rất tư sản”, nhưng bà Hiền không phải học tập, cải tạo vì bà “không bóc lột ai cả”.
- Bà Hiền cho người giúp việc về quê lao động, mở cửa hàng bán đồ lưu niệm và tự tay làm ra sản phẩm. Tác giả có nhận xét là “hoa làm rất đẹp, bán rất đắt”, nhưng “chỉ có một mình cô làm, các em thì chạy mua vật liệu”.

Trước tình hình xã hội miền Bắc bước vào hàn gắn vết thương chiến tranh sau kháng chiến chống Pháp, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội còn nhiều bề bộn, nhiều bất cập, bà nhận xét: “Vui hơn nhiều, nói cũng hơi nhiều…chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá…” .

Thái độ ứng xử nhằm “thích ứng” của bà Hiền cũng được diễn tả một cách rõ ràng và táo bạo : “Chế độ này không thích cá nhân làm giàu, chỉ cần họ đủ ăn, thiếu ăn một chút càng hay, thiếu ăn là vinh chứ không là nhục, nên tao cũng chỉ cần đủ ăn.”

b) Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ :

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ, trước việc người con lớn xin tình nguyện tòng quân, khi người cháu hỏi : “Cô bằng lòng cho em đi chiến đấu chứ?” , bà đã nói ra một sự thật: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hy sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng.”

Người con trai thứ hai hừng hực khí thế thanh niên thời đại đòi lên đường, bà cũng có một cách ứng xử của một người mẹ hiểu rõ tâm tư thế hệ con cháu: “Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”.

Trong quan hệ với môi trường tự nhiên :

Để đón ngày Tết, bà sắp xếp lại phòng khách và rất tỉ mỉ “lau đánh một cái bát thủy tiên men đỏ, hai cái đầu rồng gắn nổi bằng đồng, miệng chân cũng đều bịt thật đẹp”. Bà đang chuẩn bị đón chào tân xuân theo một nhã thú rất phổ biến hình thành từ xa xưa truyền đến ngày nay chỉ riêng người Hà Nội mới có.

Nghe những lời bình luận của người cháu về người Hà Nội hiện nay, bà Hiền “không bình luận một lời nào”, chỉ lẳng lặng nói về những dự cảm của mình, về câu chuyện cây si cổ thụ đền Ngọc Sơn. Bà nhận xét: “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được”; đồng thời bà cũng đã bộc lộ một niềm tin vào Hà Nội, vì theo bà thì thời nào Hà Nội “cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mọi lứa tuổi” .

Không thuộc kiểu người xuất chúng, bà Hiền là một người Hà Nội bình thường nhưng rất đậm cốt cách Hà Nội. Phẩm chất bền vững thuộc về đạo lí làm người muôn đời chính là cơ sở giúp bà Hiền có thể sống tốt, sống đẹp ở mọi thời, trong mọi mối quan hệ gia đình và xã hội, dù thời cuộc có lúc thăng trầm

Đặt vào bối cảnh đầy biến động của lịch sử, người phụ nữ ấy vẫn giữ nếp nhà , giữ vẹn cốt cách người Hà Nội.  Cùng với thời gian, sự lịch lãm Hà Thành dường như là tích tụ tinh hoa nơi con người này.

Hình tượng bà Hiền được xây dựng lên như để chứng minh có một tinh thần Hà Nội, một linh hồn Hà Nội thực sự đã và đang tồn tại, để lại dấu ấn đậm nét trong những người con của nó.

Những nét nghệ thuật đặc sắc

Một người Hà Nội rất gần với tùy bút, không có độ căng của những sự kiện , biến cố mà chủ yếu hấp dẫn người đọc bởi mạch cảm xúc, dòng suy tưởng của cái tôi tác giả.

Giọng điệu trần thuật rất trải đời, vừa tự nhiên, dân dã vừa trĩu nặng suy tư, vừa giàu chất khái quát, triết lí, vừa đậm tính đa thanh.

Xây dựng nhân vật: tạo tình huống gặp gỡ giữa nhân vật “tôi” với các nhân vật khác cũng là cách để khám phá, phát hiện tính cách các nhân vật ; ngôn ngữ các nhân vật cũng góp phần khắc hoạ sâu sắc tính cách của từng người; khám phá con người từ góc nhìn văn hóa , nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, với quá khứ dân tộc, với quan hệ gia đình và tiếp nối thế hệ

Bài viết của thầy Phan Danh Hiếu. Tổ trưởng Tổ Ngữ văn THPT Bùi Thị Xuân. Biên Hòa. Đồng Nai về đề bài: Phân tích vẻ đẹp của người Hà Nội qua nhân vật bà Hiền trong tác phẩm “Một người Hà Nội” (Nguyễn Khải). (Phân tích nhân vật bà Hiền)

On thi cao dang mon Van: Mot nguoi Ha Noi - Nguyen Khai

Phân tích nhân tích nhân vật bà Hiền trong tác phẩm "Một người Hà Nội"

Nguyễn Khải là nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm “Mùa lạc”,“Một chặng đường”,“Tầm nhìn xa”. Trước năm 1978, tác phẩm của Nguyễn Khải là cái nhìn tỉnh táo, sắc lạnh, luôn khai thác hiện thực trong thế xung đột, đối lập cũ - mới, tốt - xấu, ta – địch. Từ năm 1978 trở về sau, tác phẩm của ông là cái nhìn trăn trở, chiêm nghiệm, cảm nhận cái hiện thực xô bồ, hối hả, đổi thay nhưng cũng đầy hương sắc. Chuyển mạnh từ hướng ngoại sang hướng nội. Nhà văn nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, quá khứ dân tộc, gia đình và sự tiếp nối thế hệ. Từ đó nhà văn khẳng định những giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người hôm nay. Nhân vật bà Hiền trong tác phẩm tiêu biểu cho hướng tiếp cận ấy của nhà văn.

Tác phẩm “Một người Hà Nội” tiêu biểu cho các tác phẩm của Nguyễn Khải sau giai đoạn 1978, vẻ đẹp của hình tượng của cô Hiền tiêu biểu cho nét đẹp và sức sống bất diệt của Hà thành. Qua nhân vật này, nhà văn Nguyễn Khải đã nói lên biết bao nhiêu điều có tính triết lý về sự thay đổi của thời gian, không gian nhưng vẻ đẹp của con người và vốn văn hóa cùng tính cách người Hà Nội mãi là giá trị tinh thần không thay đổi.

Nhân vật cô Hiền vốn xuất thân trong một gia đình giàu có, lương thiện, được dạy dỗ theo khuôn phép nhà quan, thời trẻ là một thiếu nữ xinh đẹp, thông minh, mở xalông văn chương để giao lưu rộng rãi với giới văn nghệ sĩ Hà thành. Cô là con người trí thức, hiểu biết rộng, là con người có “bộ mặt tư sản”, một cách sống  rất tư sản : “Ở trong một tòa nhà rộng, tọa lạc ngay tại một đường phố lớn, hướng nhà nhìn thẳng ra cây si cổ thụ và hậu cung đền Ngọc Sơn”. Cái mặc cũng sang trọng quá: “Mùa đông ông mặc áo Ba-đờ-xuy, đi giày da, bà mặc áo Măng-tô cổ lông, đi giày nhung đính hạt cườm”. Cái ăn cũng không giống với số đông: “Bàn ăn trải khăn trắng, giữa bàn có một lọ hoa nhỏ, bát úp trên đĩa, đũa bọc trong giấy bản, và từng người ngồi đúng chỗ quy định”. Đây là một lối sống nền nếp, lịch lãm, nhìn thì cứ ngỡ là tư sản nhưng thực chất cô Hiền không phải là tư sản bởi vì “Cô không bóc lột ai cả thì làm sao gọi là tư sản”. Cô làm ăn lương thiện với cửa hàng hoa giấy do chính tay tự làm và các con phụ giúp. Trong quan hệ với người làm, chủ và tớ “dựa vào nhau mà sống”. Tình nghĩa như người trong họ. Đây chính là vẻ đẹp của người lao động chân chính, có nhân có nghĩa.

Vẻ đẹp của cô Hiền được miêu tả trong nhiều thời điểm khác nhau của lịch sử. Nhân vật lại có những biểu hiện ứng xử thể hiện cá tính đặc biệt nhất quán.

Khi hòa bình lập lại 1955, nhân vật “Tôi” từ kháng chiến trở về. “Hà Nội nhỏ hơn trước, vắng hơn trước”. Người thì tìm những vùng đất mới để làm ăn, sinh sôi. Riêng gia đình cô Hiền vẫn ở lại Hà Nội “Họ không thể rời xa Hà Nội, không thể sinh cơ lập nghiệp ở vùng đất khác”. Đây chính là sự gắn bó máu thịt, tình yêu của cô đối với Hà Nội. Hay sau kháng chiến chống Mỹ, mỗi bận nhân vật “tôi” từ Sài Gòn trở về Hà Nội, bà băn khoăn hỏi “Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá như thế nào, dân tình thế nào ?”. Cứ ngỡ đó chỉ là câu hỏi xã giao nhưng thực chất là chứa đựng tất cả những đau đáu, phấp phỏng và hi vọng về tương lai Hà Nội.

Nhân vật bà Hiền mang vẻ đẹp thanh lịch của người đất kinh kỳ. Đó là vẻ đẹp có trong bản thân nhân vật và được nhân vật không ngừng ý thức vun đắp. Đúng như câu ca xưa viết về con người Hà Nội:

“Chẳng thơm cũng thể hoa lài

Chẳng lịch cũng thể con người Tràng An”

Vẻ đẹp thanh lịch đó được thể hiện ở cách bà nuôi dạy con, uốn nắn cho chúng từ thói quen nhỏ nhất như cách cầm bát đũa, cách múc canh, cách nói chuyện trong bữa ăn, cách đi đứng… Điều này thật khác với cách sinh hoạt của gia đình nhân vật  xưng tôi “Cứ việc sục muôi, sục đũa vào, vừa ăn vừa quát mắng con cái, nhồm nhoàm, hả hê, không phải theo một quy tắc nào cả”. Với bà Hiền đây không phải là chuyện sinh hoạt vặt vãnh mà là văn hóa sống, văn hóa ứng xử của người Hà Nội “Là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, không được sống tùy tiện buông tuồng”. Bà còn nói làm người Hà Nội thì phải “Biết lòng tự trọng, biết xấu hổ”. Đây không phải là biểu hiện của sự kỹ tính mà thể hiện nét tinh tế của một người có văn hóa.

Vẻ đẹp thanh lịch ấy còn thể hiện qua lối sống, qua những thói quen lịch lãm rất Hà Nội. Dường như sự lịch lãm ấy như dòng máu chảy trong huyết quản của bà qua bao thời gian. Thời thiếu nữ thì mở xalông văn chương, khi về già thì tĩnh tâm hưởng ngoạn cái đẹp, trang trọng giữa nhịp sống xô bồ, náo nhiệt với hình ảnh ngồi “Tỉa thủy tiên mỗi khi xuân về”, qua không khí căn phòng khách cổ kính, trang trọng với “Bình phong bằng gỗ chạm… Cái sạp gụ chân quỳ … Cái lư hương đời Hán”. Tất cả đều tinh tế và quý phái đậm hồn Hà Nội.

Sau chiến tranh, giữa đời thường là vẻ đẹp của một bà Hiền bình dân như bao con người khác “Áo bông ngắn, quần thâm, đi dép hoặc đi guốc, khăn len buộc đầu”. Nhưng điều đáng quý ở bà là quan niệm sống “Xã hội lúc nào cũng phải có một gia tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi giá trị”. Đây là một quan niệm đẹp về cái chuẩn thanh lịch. Khác với kiểu buông tuồng. Bữa tiệc chiêu đãi hai anh lính từ chiến trường miền Nam trở về đã giúp tác giả nói lên được vẻ đẹp ấy, đó là vẻ đẹp thanh lịch đúng chuẩn của con người Hà Nội. “Các ông mũ dạ, áo ba-đờ-xuy, cổ thắt caravat, các bà lược giắt trâm cài hoa hột lấp lánh, áo nhung, áo dạ, đeo ngọc, đeo dây đi lại uyển chuyển”. Vẻ đẹp này không chỉ là vẻ đẹp một thời mà là cả một đời, nó sẽ là vẻ đẹp trầm tích văn hóa cho một thời vàng son của lịch sử.

Ngoài vẻ đẹp thanh lịch quý phái, ở bà còn toát lên vẻ đẹp của bản lĩnh cá nhân, bản lĩnh sống của người Hà Nội, hiểu biết, nhận thức về cuộc sống hết sức thực tế. Là người phụ nữ nhưng bà mạnh mẽ, chủ động, tự tin, dám là chính mình. Trong hôn nhân bà chủ động lấy một ông giáo tiểu học hiền lành chăm chỉ. Bà nào chọn ai trong số đám văn nhân một thời vui chơi ? Sự kiện ấy làm cả Hà Nội “kinh ngạc”. Bà tính toán việc sinh con đẻ cái sao cho hợp lý, đảm bảo tương lai con cái. Nếu trong thời kỳ phong kiến vai trò của người phụ nữ bị xem nhẹ thì trong xã hội hôm nay, bà Hiền luôn đề cao người phụ nữ “Người đàn bà không là nội tướng thì cái gia đình ấy cũng chả ra sao”. Bà cũng quyết định luôn cái kinh tế gia đình trong cái buổi giao thời đầy phức tạp. Ông chồng định mở tiệm máy in trong khi nhà nước đang có ý “không thích cá nhân làm giàu”. Bà nhanh chóng cản ngăn “Ông muốn làm ông chủ ở cái chế độ này à?”. Đây chính là cái nhìn tỉnh táo, sáng suốt của con người biết nhìn xa trông rộng.

Bản lĩnh ở bà còn là tính thẳng thắn. Bà bày tỏ rất thẳng nhận xét của mình về cuộc sống với bao vấn đề. Theo bà “Chính phủ can thiệp quá nhiều vào việc của dân quá, nào là phải tập thể dục mỗi sáng, sinh hoạt văn nghệ mỗi tối”. Bà cũng nhận ra cái gì đó không phù hợp trong cách nghĩ “không thích cá nhân làm giàu”. Đây chính là thái độ nói thẳng nói thật của con người trung thực, có cái nhìn sâu sắc với thời cuộc.

Vẻ đẹp của bà Hiền còn là vẻ đẹp của một nhân cách sống cao thượng, vẻ đẹp của con người Hà Nội luôn coi lòng tự trọng là thước đo phẩm giá của mình. Lòng tự trọng ấy được thể hiện rõ nét nhất qua câu chuyện của bà về hai người con đi bộ đội. Khi anh Dũng xin đi bộ đội vào Nam chiến đấu, bà nói với nhân vật “tôi” : “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”. Đến lượt thằng con thứ hai lên đường bà cũng nói “Tao không khuyến khích cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm con đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”. Bà muốn sự công bằng như bao bà mẹ khác “Tao cũng muốn sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả, hoặc chết cả, vui lẻ có hay hớm gì”. Là người mẹ ai mà không yêu con, không muốn con gặp gian nguy, bất trắc nhưng ở đây bà Hiền muốn dạy con đừng bao giờ sống đớn hèn, sống bám vào sự hi sinh của người khác là sống đáng hổ thẹn. Lòng tự trọng không cho phép con bà sống hèn nhát, ích kỷ. Ở đây bà còn hiện lên vẻ đẹp của người mẹ thời chiến có ý thức trách nhiệm với đất nước với dân tộc, biết sẻ chia trước đau thương mất mát của biết bao người mẹ khác. Lòng tự trọng giúp con người ta sống có trách nhiệm với cộng đồng. Ở bà Hiền, lòng tự trọng của cá nhân đã hòa vào lòng tự trọng của dân tộc. Đây là một cách ứng xử rất nhân bản.

Bà còn là con người luôn lưu giữ những niềm tin vào cuộc sống. Dù sống trong cơn lốc thị trường làm xói mòn đi nếp sống của người Hà Nội ngàn năm văn vật nhưng nó không làm lay chuyển được ý thức của con người luôn tin vào giá trị văn hóa bền vững của Hà Nội không thể mất đi. Bà quan niệm rằng “Với người già, bất kể ai, cái thời đã qua luôn là thời vàng son, mỗi thế hệ đều có thời vàng son của họ. Hà Nội thì không thế. Thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mọi lứa tuổi”. Đấy chính là niềm tin mãnh liệt vào những giá trị cổ truyền. Nhà văn còn đem hình ảnh cây si cổ thụ vào phần cuối của truyện với thái độ ngợi ca nhân vật với sự trân trọng những giá trị tâm linh. Cây si bật gốc đổ lên mái đền Ngọc Sơn nhưng nhờ vào tình yêu và niềm tin của con người mà nó đã sống lại. Sự sống lại cây cổ thụ là niềm lạc quan tin tưởng của tác giả vào sự phục hồi những giá trị tinh thần của Hà Nội. Những giá trị văn hóa bền vững sẽ không mất đi, nhà văn ao ước những giá trị ấy sẽ hóa thân vào hiện tại “Một người như cô phải chết đi thật tiếc, một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kỳ lung linh chói sáng những ánh vàng”.

Làm nên thành công của tác phẩm nói chung và xây dựng nhân vật bà Hiền nói riêng là nhờ vào ngôn ngữ kể chuyện đặc sắc, có tính cá thể hóa. Nhà văn ít miêu tả, chủ yếu là kể, kể bằng quan sát, phân tích và bình luận sắc sảo giàu ý nghĩa. Giọng điệu trần thuật mang tính trải đời, tự nhiên, trĩu nặng suy tư, giàu chất khái quát, đa thanh, mang đậm yếu tố tự truyện qua “cái tôi”, (giọng kể tự tin xen lẫn hoài nghi, tự hào xen lẫn tự nhiên tăng tính chân thật, khách quan.)

Qua nhân vật bà Hiền, nhà văn khẳng định sức sống bền bỉ của các giá trị văn hóa mang nét đẹp Hà Nội. Qua đó tác giả gửi gắm niềm thiết tha gìn giữ các giá trị ấy cho hôm nay và cho cả mai sau. Từ đó chúng ta thêm yêu quý, tự hào về văn hoá, đất nuớc, con người Việt Nam trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, với quá khứ dân tộc, với quan hệ gia đình và nối tiếp thế hệ. Nhân vật bà Hiền là “Một người Hà Nội” mãi mãi là hạt bụi vàng trong bể vàng trầm tích của văn hóa xứ sở.

NỘI DUNG ÔN TẬP THI ĐH – CĐ NĂM 2013

PHẦN VĂN XUÔI

(Những đề văn tham khảo)

I. CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ - Nguyễn Tuân.

Đề 1: Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của viên quan coi ngục trong “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân) và vẻ đẹp tâm hồn nhân vật Đan Thiềm trong “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (Nguyễn Huy Tưởng)

Đề 2: Cảm nhận cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” và cảnh vượt thác trong “Người lái đò Sông Đà”.

II. HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA (trích Số đỏ) - Vũ Trọng Phụng.

Đề 1: Phân tích nghệ thuật trào phúng đặc sắc của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”. Hoặc phân tích niềm vui sướng của đám con cháu trong chương “HP của một tang gia”.

III. VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI (trích Vũ Như Tô) - Nguyễn Huy Tưởng.

Đề 1: Cảm nhận bi kịch Vũ Như Tô trong đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”.

IV. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG ? (trích) - Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Đề 1: Cảm nhận vẻ đẹp của sông Hương đoạn từ thượng nguồn đến chảy qua thành phố Huế.

V. NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH (trích) - Nguyễn Thi.

Đề 1: Phân tích màn đối thoại của Việt và Chiến trong đêm trước ngày đi tòng quân.

Đề 2: Phân tích vẻ đẹp tuổi trẻ miền Nam thời chống Mỹ qua hai nhân vật Việt và Chiến.

VI. HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT (trích) - Lưu Quang Vũ.

Đề 1: Phân tích ý nghĩa triết lý của màn đối thoại Hồn – Xác.

Đề 2: Phân tích màn đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích.

Đề 3: Phân tích tấn bi kịch Trương Ba trong đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”

VII. MỘT NGƯỜI HÀ NỘI – Nguyễn Khải.

Đề 1: Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn nhân vật bà Hiền – “hạt bụi vàng” của Hà Nội.

VIII. ĐỜI THỪA – Nam Cao.

Đề 1: Phân tích tấn bi kịch tinh thần của nhà văn Hộ. (So sánh bi kịch Vũ Như Tô)

Đề 2: Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm “Đời thừa”.

IX. CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA – Nguyễn Minh Châu.

Đề 1: Phân tích nhân vật Phùng.

Đề 2: Phân tích truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” để làm rõ mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống.

Đề 3: Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.

X. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Đề 1: Phân tích nghệ thuật lập luận sắc bén và giàu tính luận chiến trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.

Xem thêm:

Ôn thi cao đẳng môn Văn: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

Ôn thi cao đẳng môn Văn: Tác giả Thạch Lam và truyện ngắn Hai Đứa Trẻ

Ôn thi cao đẳng môn Văn: Tác giả Xuân Diệu và bài thơ Vội Vàng

Ôn thi cao đẳng môn Văn khối C, D: Tổng hợp 204 câu hỏi nên ôn tập

Ôn thi cao đẳng môn văn: Hỏi xoáy đáp xoay môn Văn với thầy Phan Danh Hiếu

Ôn thi cao đẳng môn Văn: Thầy giáo hotboy Trần Minh Tây chia sẻ bí kíp ôn tất tần tật các dạng đề Văn

Ôn thi cao đẳng môn văn: Bí kíp “ăn đứt” câu hỏi 2 điểm trong đề thi đại học môn Văn khối C, D

Ôn thi cao đẳng môn Văn: Mẹo làm dạng bài so sánh

Từ khóa tìm nhiều:

Thong tin tuyen sinh , tuyen sinh 2013 diem thi dai hoc , dap an de thi dai hoc

Nguồn: Thầy Phan Danh HIếu




 Gửi bạn bè In
Gửi bình luận của bạn
Off Telex VNI
  T.D